Lan hài helen - Paphiopedilum helenae


     Lan hài helen Paphiopedilum helenae:
      Đây có thể là loài lan Hài có kích thước hoa nhỏ nhất được tìm thấy ở Việt Nam và câu chuyện tình yêu của nhà thực vật học Averyanov đã nói lên tất cả về loài hoa lan đặc hữu này: “Một buổi chiều, sau khi tôi và các bạn đồng nghiệp đã mất cả ngày trèo lên nhiều ngọn núi dốc, mọi người đang tính trở về. Nhưng khi thấy ngọn đồi trước mặt rất hấp dẫn, cây cối thật là lý tưởng cho tôi có cảm giác có lan mọc ở đó. Mọi người đã quá mệt mỏi không muốn đi nữa nên tôi đã leo lên một mình. Khi leo gần tới đỉnh đồi, tôi thấy ở gần mép đá có một đám hoa vàng rực rỡ. Thực là đặc biệt vì bông hoa quá lớn so với cây lan. Tội vội chụp vài tấm ảnh, đào một vài nhánh rồi vội vã xuống đồi. Vì vợ tôi Helene Averynova cũng có bộ tóc vàng và dáng người nhỏ nhắn như cây lan, cho nên tôi lấy tên nàng để đặt tên cho cây lan này”.
Tên Việt Nam:   Lan hài helen
Tên Latin: Paphiopedilum helenae
Đồng danh: Paphiopedilum helenae Aver. 1996. Paphiopedilum delicatum Z.J. Liu & J.Y. Zhang, 2001
Họ: Phong lan Orchidaceae
Bộ: Phong lan Orchidales
Lớp (nhóm): Lan đất
Đặc điểm nhận dạng: Cây lâu năm, có 3 - 5 lá mọc chụm. Lá hình thuôn - bầu dục, cỡ 4 - 10 x 0,6 - 1,6 cm, mặt trên màu lục, rải rác có chấm màu tím - tía ở gốc, mặt dưới màu lục nhạt. Cụm hoa có cuống dài 4 - 7 cm, mang 1 hoa. Lá bắc hình trứng - bầu dục, cỡ 0,8 - 1,2 x 0,3 - 0,4 cm. Hoa có kích thước lớn so với toàn cây, rộng 5 - 6 cm, có lông ngắn ở mặt ngoài lá đài; lá đài gần trục hoa màu vàng tươi, hình trứng ngược, cỡ 1,8 - 3,5 x 1,5 - 3 cm; lá đài kia màu trắng, hình trứng - bầu dục, cỡ 1,5 - 2,5 x 0,8 - 1,5 cm; cánh hoa màu vàng cam với mạng gân màu da cam - nâu thẫm hơn, cỡ 2,5 - 3,5 x 0,4 - 0,8 cm, hơi có lông ở mép và gốc trong; môi màu da cam - nâu tươi, hình túi sấu, cỡ 2 - 3 x 1,5 - 2 cm; nhị lép màu vàng nhạt, hình trứng ngược rộng, cỡ 0,7 - 0,8 x 0,7 - 0,8 cm, có lông dài, bầu dài từ 2 – 3.5cm, phủ đầy lông ngắn màu tía thẫm.



Sinh học và sinh thái: Mùa hoa tháng 9 - 11. Tái sinh bằng hạt. Mọc dưới tán rừng nguyên sinh rậm thường xanh nhiệt đới mưa mùa cây lá kim hay hỗn giao cây lá kim - lá rộng trên núi đá vôi, ở độ cao 600 - 1000 m, thành nhóm nhỏ rất rải rác trong các khe nứt, ít đất của các vách dựng đứng ở gần đỉnh và đỉnh núi.
Phân bố:
Trong nước: Cao Bằng (Trà Lĩnh: núi quanh hồ Thăng Heng; Đông Khê), Bắc Kạn (Na Rì:KimHỷ).
Thế giới: Trung Quốc.
Giá trị: Loài cây làm cảnh quý vì có kích thước loài nhỏ nhất trong số Hài của Việt Nam, có hoa đẹp, màu sắc duyên dáng và hiếm.
Tình trạng: Loài vốn có khu phân bố hẹp, nơi cư trú bị chia cắt và rất rải rác, lại có số lượng cá thể ít, trong vài năm gần đây bị thu hái đến cạn kiệt để xuất khẩu lậu qua biên giới nên đang bị tuyệt chủng. Hiện nay chỉ còn sót lại rất rải rác một số cây ở các khe núi khuất và cao khó thu hái, nhưng số phận của chúng cũng rất mong manh do môi trường sống là rừng bị chặt và đốt do vẫn tiếp tục bị tận thu.
Phân hạng: CRA1a, cd, B1+2b, c, e.
Biện pháp bảo vệ: Đã liệt kê vào Phụ lục 1 của công ước CITES và Danh mục Thực vật rừng, Động vật rừng nguy cấp, quý hiếm (nhóm 1) của Nghị định số 32/2006/NĐ - CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ để nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại. Bảo vệ phần quần thể nhỏ nhoi còn sót lại ở Trà Lĩnh và Đông Khê. Cần nhân rộng việc gieo ươm để vừa tạo nguồn cây làm cảnh đồng thời bảo vệ nguồn gen.

Phổ biến trong tuần

Tin Tức