Lan hài râu - Paphiopedilum dianthum


Lan hài râu Paphiopedilum dianthum:
Tên Việt Nam: Lan hài râu
Tên Latin: Paphiopedilum dianthum
Đồng danh:  Paphiopedilum dianthum T. Tang & F.T.Wang, 1940. Paphiopedilum parishii var. dianthum (T. Tang & F.T. Wang) Karasaw & Saito, 1982.
Họ: Phong lan Orchidaceae
Bộ: Phong lan Orchidales
Lớp (nhóm): Lan đất

Đặc điểm nhận dạng:
Cây lâu năm, có 4 - 6 lá, mọc chùm. Lá chất da, dày, hình thuôn - dải, cỡ 20 - 50 x 2 - 5 cm, mặt trên màu lục thẫm, mặt dưới màu lục nhạt. Cụm hoa có cuống dài đến 0,4 - 0,7 m, thường mang 2 hoa, ít khi chỉ một hay ngược lại đến 4 - 5 hoa. Lá bắc hình trứng rộng, cỡ 1,2 - 3 cm. Hoa rộng 8 - 10 cm, hơi có lông ở mặt ngoài; lá đài gần trục hoa màu trắng chuyển thành màu lục ở gốc, hình bầu dục, cỡ 3,8 - 4,3 x 2,2 - 2,5 cm; lá đài kia màu lục nhạt với mạng gân màu lục thẫm hơn, hình trứng rộng cỡ 3,5 - 3,8 x 2,3 - 2,6 cm; cánh hoa hình dải - xoan, màu trắng hay vàng lục nhạt, cỡ 8 - 10 x 1 - 1,1 cm; môi màu vàng nâu - nhạt, hình túi sâu, cỡ 4 - 4,5 x 2 - 2,5 cm, với 2 thùy bên hình tam giác; nhị lép màu trắng với mạng gân màu lục thẫm ở giữa, hình trứng ngược, cỡ 0,9 - 1,1 x 0,6 - 0,75 cm; bầu dài 2,5 - 3,5 cm, nhẵn.

Sinh học và sinh thái: Mùa hoa tháng 9 - 11. Tái sinh bằng hạt. Mọc dưới tán rừng nguyên sinh rậm thường xanh nhiệt đới mưa mùa cây lá kim hay hỗn giao với cây lá rộng trên núi đá vôi, ở độ cao 900 - 1400 m, thành nhóm nhỏ ở khe nứt ít đất của các vách dốc đứng gần đỉnh; đôi khi mọc bám cả trên cây.
Phân bố:
Trong nước: Lào Cai (gần thị trấn Sapa), Sơn La (Mộc Châu), Hà Giang (Quản Bạ: Bát Đại Sơn; Yên Minh: Lao Và Chải), Cao Bằng (Nguyên Bình: Yên Lạc), Hòa Bình (Mai Châu: Pà Cò và Hang Kia).
Thế giới: Trung Quốc.

Giá trị: Loài Lan hiếm, có kích thước lá và cụm hoa dài nhất và mang nhiều hoa nhất, lại có màu sắc khá đẹp nên được ưa chuộng để trồng làm cảnh.
Tình trạng: Loài vốn có khu phân bố không hẹp, nhưng nơi cư trú bị chia cắt rải rác với số lượng cá thể ít, trong vài năm gần đây lại bị thu đến kiệt quệ để bán trồng làm cảnh ở trong nước và xuất khẩu lậu qua biên giới nên đang bị tuyệt chủng.
Phân hạng: EN A1c,d+2d, B1+2b,c,e.

Biện pháp bảo vệ: Đã liệt kê vào Phụ lục 1 của công ước CITES và ­­­Danh mục Thực vật rừng, Động vật rừng nguy cấp, quý hiếm (nhóm 1) của nghị định số 32/2006/ NĐ - CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 để nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại. Bảo vệ phần quần thể nhỏ nhoi còn sót lại ở các Khu bảo tồn thiên nhiên Pà Cò - Hang Kia, Phong Quang, Bát Đại Sơn. Cần nhân rộng việc gieo ươm để vừa tạo nguồn cây làm cảnh đồng thời bảo vệ nguồn gen.



Phổ biến trong tuần

Tin Tức